top of page

Chất lượng giáo viên của người khuyết tật ở Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung có gì khác biệt?



Theo luật người khuyết tật ban hành năm 2010, người khuyết tật được định nghĩa là người bị khiếm khuyết 1 hoặc nhiều bộ phận trên cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng, được biểu hiện ở việc gặp khó khăn trong việc sinh hoạt. Cụ thể, cũng theo bộ luật này, người khuyết tật được chia làm 5 dạng bao gồm: vận động, nghe - nói, nhìn, thần kinh - tâm thần, trí tuệ và các nhóm khác.Theo thống kê chính thức của Tổng cục thống kê - Bộ Kế hoạch và Đầu tư vào năm 2016, người khuyết tật chiếm 7% dân số Việt Nam - một tỷ lệ không nhỏ so với toàn bộ dân số Việt Nam là khoảng 97 triệu người cùng năm. Vì vậy, chúng ta có thể thấy rằng, với một tỷ trọng không hề nhỏ như vậy thì việc quan tâm tới quyền lợi chính đáng của họ là một việc không thể bỏ qua.


Như vậy, việc ban hành và phân loại luật của người khuyết tật thành một bộ luật riêng là một điều đáng lưu ý về nỗ lực của Việt Nam trong việc thực thi quyền con người nói chung và quyền giáo dục nói riêng cũng như là công ước về quyền trẻ em. Song, vẫn còn những khó khăn mà chúng ta cần phải nắm bắt được về vấn đề này.


Thứ nhất, như đã nói ở trên, người khuyết tật được chia thành 5 nhóm chính: nghe - nói, nhìn, thần kinh - tâm thần, vận động, trí tuệ và cả những nhóm đặc biệt khác do vậy ở mỗi nhóm cần có những cơ chế đặc thù riêng. Do vậy, vốn xã hội của họ sẽ có những điểm hạn chế nhất định được biểu hiện ở bảng 8.1 này - tỷ lệ đi học so với cả nước




(Nguồn: Điều tra quốc gia về người khuyết tật năm 2016)


Từ bảng số liệu trên ta có thể thấy rằng, tỷ lệ trẻ em khuyết tật theo các cấp học đúng tuổi đều có một sự khác biệt rất lớn. Nếu ở cấp tiểu học, tỷ lệ đi trẻ khuyết tật đi học đúng tuổi là 81,69% - chênh 5,56% so với lại người không khuyết tật, thì ở cấp trung học phổ thông, một sự chênh lệch lớn hơn đã được biểu hiện rõ tại đây - 68,65% người không khuyết tật đi học đúng tuổi và 33,56% người khuyết tật - đó là một tỷ lệ rất lớn. Song, điều kiện kinh tế, địa lý (đồng bằng, đô thị), giới, dân tộc và lựa chọn nghề nghiệp lại là những nguyên nhân khách quan khác dẫn tới sự khác biệt đáng lưu ý này.





(Nguồn: Tổng cục thống kê - Bộ kế hoạch và đầu tư)


Sang hình 8.1 này chúng ta có thể thấy rằng, vẫn có sự khác biệt lớn giữa tỷ lệ đi học ở cả hai nhóm đối tượng này. 94,31% ở nhóm người không khuyết tật và 74,43% ở nhóm còn lại là một sự khác biệt không hề nhỏ ở hai nhóm đối tượng này về việc biết chữ - bước đệm để đi vào con đường học tập. Hơn nữa, tỷ lệ người được đào tạo nghề ở người khuyết tật chỉ chiếm 7,25% so với 21,93% của bên còn lại. Nhưng trên thực tế, ở nước ta trong giai đoạn này, số người khuyết tật được miễn giảm học phí là 55,5% so với nhóm không khuyết tật là 43% - đó là một trong những nỗ lực để làm giảm khoảng cách giữa hai nhóm này.


Thứ hai, nhận thức của xã hội về vấn đề này tuy đã có những thay đổi theo hướng tích cực, song vẫn còn những hiểu lầm nhất định về nhóm người này. Theo khảo sát của chúng tôi, 7,3% trên 96 người được hỏi vẫn đang còn gọi sai nhóm đối tượng này - dị tật - từ mang tính tiêu cực và lập dị. Ngoài ra, 3.1% người được hỏi cũng chưa nắm được phương pháp tiếp cận dành cho người khiếm thị.


Tuy nhiên bên cạnh khó khăn đó, đã có những giải pháp để tháo gỡ những khó khăn này. Theo điều 28 luật người khuyết tật ban hành năm 2010, 3 phương thức giáo dục chính dành cho người khuyết tật là hoà nhập, bán hòa nhập và chuyên biệt sẽ tùy theo khả năng của người học để quyết định. Đồng thời, những trung tâm hỗ trợ và phát triển dành cho người khuyết tật cũng được quản lý Thêm vào đó, theo điều 7 nghị định mới nhất từ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, những giáo viên tham gia việc giáo dục cho người khuyết tật sẽ được hỗ trợ bằng việc nâng lương cho họ.


Từ những điểm nhấn đó, chúng ta có thể thấy rằng, chính phủ Việt Nam đã có những hành động tích cực để bảo vệ những quyền cơ bản của người khuyết tật. Tuy nhiên, để phát huy những thế mạnh này, vẫn cần phải thực hiện nhiều hơn đặc biệt là trong bối cảnh nước ta sống chung với đại dịch COVID-19 này.


Đầu tiên là về việc học trực tuyến, trong bối cảnh nhiều thành phố trên cả nước - trong đó có Hà Nội đã yêu cầu quay lại học trực tuyến thì việc ngồi trước màn hình một thời gian dài, vốn đã là việc khó cho người không khuyết tật thì đối với người khuyết tật đây lại là một công việc rất khó. Do vậy, đối với những nhóm đối tượng khuyết tật khác nhau sẽ cần có những tiêu chuẩn riêng để tạo cơ hội học tập. Ví dụ như đối với nhóm khiếm thị sẽ cần phải tương tác bằng lời nói nhiều hơn là việc viết, còn với nhóm khuyết tật vận động thì cần phải hạn chế các hoạt động và bài tập thể chất, v.v.


Tiếp theo, cũng trong bối cảnh này, những giáo viên tự nguyện giúp đỡ người khuyết tật - đặc biệt là ở cấp mầm non cũng gặp những khó khăn do việc học trực tuyến lâu dài sẽ không mang lại nguồn thu nhập ổn định để sinh sống và làm việc. Do vậy, cần phải có những giải pháp như là lương phụ cấp thì mới có thể ổn định được cuộc sống và tiếp tục công việc.


Do đó, chúng ta vẫn còn rất nhiều việc để tiếp tục cải thiện và giúp đỡ người khuyết tật hòa nhập với xã hội của chúng ta cũng như là làm nổi bật truyền thống “tương thân, tương ái”, “Bầu ơi, thương lấy bí cùng” và bảo vệ khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam.


Tài liệu tham khảo:

  • Tổng cục thống kê - Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Điều tra quốc gia người khuyết tật 2016.: NXB Thống kê

  • Thông cáo báo chí UNICEF năm 2019: Việt Nam công bố kết quả điều tra quy mô lớn quốc gia về người khuyết tật

  • Khảo sát tự thực hiện

  • Luật Người khuyết tật số 51/2010/QH12

  • Văn bản hợp nhất của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội hiệu lực năm 2019: 763/VBHN-BLĐTBXH


 
 
 

Comments


Post: Blog2_Post
  • Facebook
  • Instagram

©2022 by Edumore. Proudly created with Wix.com

bottom of page